Dưỡng da, giải nhiệt từ cây lô hội

Nha đam có lá không cuống, mọc thành vành rất sít nhau, phiến lá dày mọng nước, lá nha đam nấu chè, ăn sống, chế biến nước đóng hộp giải khát, chế thành thực phẩm chức năng, mỹ phẩm dưỡng da.

Người ta cắt lá, loại bỏ lớp biểu bì, lấy hết chất nhựa và sấy nhiệt độ 50 độ hoặc ép lá lấy dịch cô cách thủy đến khô thành nhựa cục màu đen gọi lô hội... Nhiều người dân trồng lô hội hái lá nấu canh, nấu chè ăn cho mát chữa nóng nhiệt mụn nhọt táo bón bằng cách hái lá tước vỏ cứng thái lát nấu chè đậu xanh ăn.

Theo dược tính hiện đại, lô hội chứa khoảng 30-40% hợp chất dẫn chất hydroxymetylanthraquinon và các axit amin, các enzym và muối khoáng... Theo y học cổ truyền, lô hội có vị đắng, tính hàn. Tác dụng sát trùng, thông tiện, thanh nhiệt. Chủ trị táo bón, trẻ em cam tích...

Sử dụng ở liều khác nhau lô hội có những tác dụng khác nhau như: liều nhỏ (0,05 - 0,10g), lô hội tác dụng như một vị thuốc bổ giúp tiêu hóa, kích thích nhẹ niêm mạc ruột, không cho cặn bã ở lâu trong ruột... Nếu liều cao, lô hội tác dụng tẩy sổ mạnh, gây sung huyết nội tạng, nếu dùng liều quá cao (8g) có thể ngộ độc chết người...Nha đam chế dạng kem bôi chữa bệnh vẩy nến, trứng cá, viêm da, mẩn ngứa, zona. Lá tươi làm mặt nạ chống lão hóa da, giảm nếp nhăn.

Nha đam chế dạng kem bôi chữa bệnh vẩy nến, trứng cá, viêm da, mẩn ngứa, zona. Lá tươi làm mặt nạ chống lão hóa da, giảm nếp nhăn.

Nha đam còn chế dạng kem bôi chữa bệnh vẩy nến, trứng cá, viêm da, mẩn ngứa, zona. Lá tươi làm mặt nạ đắp lên mặt chống lão hóa bớt nếp nhăn. Gần đây, lá nha đam tươi còn dùng chữa đái tháo đường, tăng huyết áp.

Nha đam tươi người lớn mỗi lần nên sử dụng từ 2-3 lá (tương đương 20-50mg lô hội) tác dụng kiện tỳ vị, nhuận gan, lợi mật, bớt táo bón giúp ăn ngon. Nha đam còn trồng lấy nhựa cây chế thành lô hội thường dùng chủ trị một số bệnh chứng sau:

Trị cam, sát trùng, hòa vị, chỉ tà: lô hội 40g, hạc sắt 40g, hoàng liên 40g, lôi hoàn 40g, mộc hương 40g, thanh đại 40g, thuyền thoái 20 cái, vu di 40g, xạ hương 4g. Tán bột làm hoàn. Ngày uống 2 - 4g.

Trị táo bón, tiểu bí do nhiệt kết: lô hội 6g nghiền nát làm thành 6 viên nang nhỏ. Mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 2 - 3 viên nang. Nếu không có viên nang, dùng đường trộn với thuốc, ngậm nuốt dần. Tác dụng: thanh nhiệt, thông lâm (lô hội thông tiện giào hoàn).

Trị ghẻ lở, lở loét hậu môn: lô hội 30g, cam thảo 15g. Tán bột, dùng nước đậu hũ rửa chỗ loét rồi đắp thuốc vào (lô hội tán - lâm sàng thường dụng trung dược thủ sách).

Trị can đởm thực nhiệt gây ra táo bón, tiểu đỏ, ít, hoa mắt, chóng mặt, nặng hơn thì co giật, phát cuồng, nói nhảm: lô hội, đại hoàng, thanh đại (thủy phi) mỗi thứ 4g, đương quy, long đởm thảo, hoàng cầm, chi tử, hoàng bá, hoàng liên mỗi thứ 6g, mộc hương 5,5g, xạ hương 0,3g (để riêng). Tán bột, luyện mật làm hoàn. Mỗi lần uống 6-10g, ngày 3 lần (đương quy lô hội hoàn - tiền ất).

Lưu ý: không dùng nha đam cho những trường hợp tắc ruột hẹp ruột, táo do mất nước, viêm loét dạ dày tá tràng, trĩ, viêm thận, phụ nữ có thai.

Lương y Minh Phúc

Chữa nôn mửa bằng cây bùng bục

Hỏi: Xin cho biết cây bùng bục có được dùng để làm thuốc và chữa bệnh không?

(Lê Văn Tiến - Hà Tĩnh)

Trả lời: Bùng bục còn gọi là bục bục, bông bét, cây lá ngõa, kok po hou (Lào).

Tên khoa học Mallotus barbatus Muell. er Arg.

Thuộc họ thầu dầu (Euphorbiaceae).

Mô tả cây

Bùng bục là một cây nhỡ, cao chừng 1,5 - 2m. Cành non có nhiều lông màu vàng nhạt. Lá mọc so le, phiến lá hình tim, đầu lá dài nhọn, phía cuống tròn hay thẳng góc với cuống, mép nguyên hay hơi thành 3 thùy cắt không sâu, dài rộng chừng 15 - 18cm, khi còn non mặt dưới có những lông màu vàng nhạt, khi già có thể nhẵn. Cuống dài có phủ lông trắng vàng.

Mua hoa vào tháng 4 - 5 ở miền Bắc, mùa quả vào tháng 8 - 9. Hoa khác gốc, mọc thành bông ở đầu cành hay kẽ lá, hoa đực dài và nhỏ hơn hoa cái. Bông hoa dài tới 20cm. Quả có lông cứng to dài. Hạt màu đen, nhỏ, chỉ lớn hơn đầu đinh ghim một chút.

Chữa nôn mửa bằng cây bùng bục

Phân bố thu hái và chế biến

Cây bùng bục mọc hoang ở khắp các miền rừng núi nước ta. Thường ít được dùng. Nhưng dân tộc ít người một vài vùng có dùng hạt của nó để ép lấy dầu đặc như sáp dùng thắp đèn hay làm nến.

Công dụng và liều dùng

Chưa thấy nhân dân ta dùng làm thuốc, một vài nơi như Nghệ An, Hà Tĩnh, Lào dùng hạt ép dầu để thắp.

Tại Trung Quốc người ta có dùng một loại bùng bục có tên khoa học là Mallotus japonicus Muell. er Arg, với tên địa phương là đã ngô đồng, dã đồng. Vỏ thân cây này được dùng chữa nôn mửa, còn có tác dụng sát trùng, nấu cao dán lên mụn nhọt có tác dụng đỡ mưng mủ và lên da non. Gần đây người ta còn thấy vỏ cây này có tác dụng giúp sự tiêu hóa dùng chữa đau dạ dày và loét tá tràng có kết quả.

(Theo Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam)

của GS. ĐỖ TẤT LỢi

Bạch quả: loài cây linh thiêng tốt cho trí não con người

Bạch quả (Ginkgo biloba) là loài duy nhất còn sống sót của các chi Ginkgo, một loại hóa thạch sống còn sống. Các cây Bạch quả ngày nay gần giống với tổ tiên cổ xưa của nó.

Các nhà khảo cổ học cho rằng cây Bạch quả có nguồn gốc ở các thung lũng núi tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc, họ có những tranh luận rằng nó thực sự hoang dã hoặc những tàn tích của những cây trồng xung quanh nhà ở và tu viện của các nhà Phật giáo thế kỷ XI, cây Bạch quả được tôn kính như một loài cây linh thiêng.

Theo Đông y, hạt cây Bạch quả còn có tên là Ngân Hạnh, nó được dùng từ rất lâu đời trong nền y học cổ truyền phương Đông. Có vị ngọt đắng, tính ấm, có tác dụng ôn phế ích khí (sắc trắng thuộc kim, vào phế), có tác dụng liễm suyễn thấu (ho hen), súc tiểu tiện, chỉ đới trọc. Nếu dùng sống thì có tác dụng trừ đàm, giải độc rượu, tiêu độc sát trùng (hoa Bạch quả nở vào ban đêm, thuộc âm, có độc tính nhẹ nên có tính tiêu độc sát trùng).

Cây Bạch quả

Việc sử dụng lá Bạch quả được ghi chép lần đầu trong Điển niên bản thảo Vân Nam, xuất bản năm 1436. Khi đó, lá Bạch quả được sử dụng bên ngoài để điều trị vết loét, dùng bên trong để điều trị tiêu chảy, và dùng như một loại thuốc bổ cho tim, phổi.

Trong những năm 1700 Bạch quả (Ginkgo biloba) đã được biết đến ở châu u, và khoảng 60 năm sau đó là ở Bắc Mỹ. Bạch quả được dùng làm thuốc chữa bệnh ở phương Tây từ những năm 1900, khi chiết xuất từ lá có tác dụng cải thiện lưu thông tuần hoàn máu, đặc biệt là các mạch máu não và tứ chi. Hiện nay, ở Mỹ và châu u, các chế phẩm có thành phần cao lá Bạch quả hiện nay là một trong những loại thuốc thảo dược bán chạy nhất.

Ngày nay, Bạch quả được sử dụng phổ biến nhằm điều trị bệnh sa sút trí tuệ, do thiểu năng tuần hoàn máu não. Nó giúp cải thiện sự suy nghĩ, nhận thức và trí nhớ ở những người mắc bệnh Alzheimer. Các bác sĩ cũng dùng Bạch quả để điều trị các bệnh như thiểu năng tuần hoàn não, thoái hóa điểm vàng, hội chứng tiền đình, ù tai, trầm cảm, lo âu, căng thẳng, viêm tắc mạch máu chi, hội chứng Raynaud.

Trong lá Bạch quả có chứa các Terpenoid, Flavonoid và một số thành phần khác như Catechin, các hợp chất Phenol, các Polysaccharid, các Sterol, tinh dầu, Brom, sáp… Trong thịt quả có chứa các Acid phenol có độc tính, hạt chứa nhiều dầu béo.

Bạch quả

Tác dụng dược lý của Bạch quả như sau:

Cải thiện tuần hoàn máu não và tuần hoàn ngoại biên.

Cải thiện chức năng tiền đình và thính giác.

Đối kháng với các yếu tố hoạt hóa tiểu cầu.

Chống oxy hóa, loại bỏ các gốc tự do.

Chống viêm tại chỗ.

Giảm co thắt cơ trơn, giảm đau trên các cơn đau quặn.

Ức chế một số vi khuẩn.

Cách sử dụng:

Trà: Cho 1 muỗng cà phê lá Bạch quả trong 100ml nước sôi hãm trong vòng 5 - 7 phút. Uống 1 - 2 ly mỗi ngày sẽ giúp chống căng thẳng, stress.

Dạng thuốc chiết xuất: Hầu hết các nghiên cứu đã được tiến hành cho rằng dùng liều 120 mg/ngày chia hai lần chất chiết xuất chuẩn hóa đến 24 - 27% Glycosides flavone và khoảng 6 – 7% Triterpenes, đối với bệnh viêm tắc động mạch ngoại biên có thể dùng liều 120 – 160mg/ngày. Thời gian dùng thuốc từ 4 – 12 tuần tùy vào từng trường hợp bệnh nhân cụ thể.

Lá Bạch quả và chiết xuất từ lá Bạch quả được xem là an toàn, được chứng minh qua nhiều thử nghiệm lâm sàng lớn và được ứng dụng rộng rãi. Tuy nhiên nó có thể có tác động lên quá trình đông máu. Những bệnh nhân đang dùng các thuốc chống đông nên tham khảo ý kiến của bác sĩ trước khi sử dụng chế phẩm từ lá Bạch quả. Ngưng dùng Bạch quả ít nhất 3 ngày trước khi phẫu thuật. Không nên sử dụng cho phụ nữ có thai vì tăng nguy cơ gây xuất huyết, sảy thai.

Tiến sỹ - Lương Y: Phùng Tuấn Giang

Cây dứa dại hỗ trợ điều trị viêm gan

Cây dứa dại còn có tên gọi là dứa gỗ, dứa gai. Đông y gọi tên là lỗ cổ tử, sơn ba la (dứa núi), dã ba la (dứa dại). Tên khoa học là padanus tectorius soland. Dứa dại mọc hoang ở nhiều nơi, được trồng làm cây cảnh, một số nơi còn dùng để ăn. Ngoài quả thì các bộ phận khác như nõn hoa đều có thể làm thuốc.

Quả dứa dại.

Quả dứa dại.

Sau đây, xin giới thiệu một số bài thuốc trị bệnh gan từ dứa dại:

Bài thuốc chữa viêm gan siêu vi: quả dứa dại khô 12g, diệp hạ châu (chó đẻ răng cưa) 8g, nhân trần 12g, trần bì 8g, hổ trượng căn (cốt khí củ) 12g, ngũ vị tử 6g, cam thảo 4g. Tất cả cho vào sắc với 1 lít nước, đun cạn còn 450ml, chia uống 3 lần trong ngày, uống lúc đói. Quả dứa dại vị ngọt, tính bình, có tác dụng ích huyết, cường tâm, bổ tỳ vị, tiêu đàm phá trệ, giải độc; Cốt khí có tác dụng lợi tiểu thông kinh, giảm đau, giảm độc, dùng cho những người bụng trướng, tiểu tiện khó khăn; Nhân trần vị thuốc thường dùng trong nhân dân chữa bệnh vàng da. Nhân trần có tác dụng tăng tiết mật và tăng thải độc của gan và có tác dụng chống viêm, thông tiểu tiện nên được dùng trong chữa bệnh vàng da, bệnh gan.

Bài thuốc chữa phù thũng, xơ gan cổ trướng: rễ dứa dại khô 30-40g, rễ cỏ xước 20-30g, cỏ lưỡi mèo (chỉ thiên) 20-30g. Tất cả cho vào sắc nước uống trong ngày. Rễ dứa dại vị ngọt, tính mát có tác dụng ra mồ hôi, hạ sốt, lợi thủy, hóa thấp, dùng cho người bệnh viêm gan viêm thận. Chỉ thiên có vị đắng, tác dụng giảm sốt, thải độc; Cỏ xước vị chua, đắng, tính bình, không độc, vào 2 kinh can và thận. Có tác dụng phá huyết, hành ứ (sống), bổ can thận (chế biến chín).

Ngoài ra, đọt non cũng được dùng làm thuốc thông tiểu dùng trong những trường hợp đái dắt, đái ra sỏi, sạn... dùng đắp chữa lòi dom. Ngày dùng với liều 20-40g, dùng ngoài không kể liều lượng.

BS. Trần Văn Khương

Lá tre, vị thuốc

Trúc diệp có vị ngọt nhạt, hơi cay, tính lành, vào các kinh: tâm phế, có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu giảm sốt. Ngoài ra có thể dùng lá tre cùng với một số lá có tinh dầu, cho mùi thơm, như lá sả, lá hương nhu, bạc hà, khuynh diệp… làm thuốc xông hơi trị cảm mạo. Sau đây là một số bài thuốc điều trị:

Chữa đái buốt, đái dắt: Trúc diệp quyển tâm phối hợp với rau má mỗi thứ 20g, để tươi, rửa sạch, giã nát với vài hạt muối, thêm nước gạn uống.

Chữa tăng huyết áp: Trúc diệp quyển tâm 10g, lá diễn 10g, lá dâu 20g, hoa cúc vàng 20g. Tất cả sắc uống trong ngày.

Chữa kiết lỵ kinh niên: Trúc diệp quyển tâm 4g, hạt cau già 2g, chè tươi 10g sao vàng sắc với 200ml nước còn 50ml nước, uống trong ngày.

Lá tre, vị thuốc

Chữa cảm sốt, miệng khô khát: Trúc diệp 30g, thạch cao 12g, mạch môn 8g, gạo tẻ 7g, bán hạ 4g, đảng sâm 2g, cam thảo 2g. Tất cả sắc với 400ml nước còn 100ml uống làm 2 lần trong ngày.

Hoặc dùng bài: Trúc diệp 16g, kim ngân 16g, cam thảo đất 12g, kinh giới 8g, bạc hà 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Chữa viêm phế quản cấp tính: Trúc diệp 12g, thạch cao 16g, tang bạch bì 12g, mạch môn 12g, sa sâm 12g, thiên môn 12g, hoài sơn 12g, lá hẹ 8g. Sắc uống trong ngày.

Chữa viêm thanh quản, mất tiếng: Trúc diệp 12g, trúc như 12g, tang bạch bì 12g, thổ bối mẫu 10g, thanh bì 8g, cát cánh 8g, nam tính chế 6g, gừng 4g. Sắc uống ngày 1 thang.

Chữa viêm bàng quang cấp tính: Trúc diệp 16g, sinh địa 12g, mộc thông 12g, hoàng cầm 12g, cam thảo 6g, đăng tâm 6g sắc uống trong ngày.

Chữa đái ra dưỡng chấp: Trúc diệp 20g, kim tiền thảo 20g, mía dò 20g, giá đỗ xanh 16g, tì giải 16g, ý dĩ 12g, hoạt thạch 10g. Sắc uống ngày 1 thang.

Chữa sởi ở thời kỳ đang mọc: Trúc diệp 20g, sài đất 16g, sắn dây 12g, cam thảo đất 12g. Sắc uống trong ngày.

Chữa thủy đậu: Trúc diệp 8g, liên kiều 8g, cát cánh 4g, đạm đậu sị 4g, bạc hà 2g, sơn chi 2g, cam thảo 2g, hành tằm 2 củ. Sắc uống ngày 1 thang.

Chữa viêm loét miệng: Trúc diệp 16g, thạch cao 20g, sinh địa 16g, chút chít 16g, cam thảo nam 16g, huyền sâm 12g, ngọc trúc 12g, mộc thông 12g. Sắc uống trong ngày.

DS. Nguyễn Thị Hồng

Vải

Điều hòa huyết áp

Potassium (kali) là một loại khoáng tố cần thiết mà cơ thể cần để kiểm soát huyết áp. Hiệp hội Tim mạch Mỹ đề nghị rằng những người có huyết áp cao nên ăn những loại thực phẩm giàu kali như trái vải. Một chén vải có thể cung cấp cho cơ thể khoảng 325 mg kali, tức khoảng 9% lượng kali được đề nghị cho cơ thể mỗi ngày. Bên cạnh đó, trái vải là một loại trái cây có hàm lượng sodium (natri) vô cùng thấp, vì vậy đây là loại thức ăn lý tưởng cho việc điều hòa, kiểm soát huyết áp.

Ngăn ngừa ung thư:

Trong quả vải thiều chứa chất flavonoid có tác dụng rất tốt trong việc phòng ngừa nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ. Ngoài flavonoid, trong quả vải còn chứa các loại vitamin C, đây là nguồn dưỡng chất mà cơ thể không thể sản xuất được, có tác dụng giúp cơ thể ngăn ngừa bệnh ung thư

Ngoài ra nó còn tốt cho xương, da và các mô cơ thể giúp ngăn ngừa các chứng bệnh như cảm lạnh, sốt, viêm họng, giảm đau.

Tạo làn da rạng ngời

Mùa hè là mùa “đáng sợ” của làn da, nó khiến da dễ nổi mụn và đốm do da tiết nhiều chất nhờn cùng với bụi bẩn ngoài đường. Ngoài việc làm sạch, nuôi nấng da từ bên ngoài, bạn cũng cần nuôi dưỡng da từ bên trong bằng chính trái vải. Các chất chống ôxy hóa trong trái vải sẽ giúp da khỏe mạnh hơn, loại bớt những nếp nhăn, tạo cho làn da nét trẻ trung hơn.

Giảm trào ngược, cầm tiêu chảy:

vải có tính ấm bồi bổ hệ tiêu hóa, còn có thể giảm trào ngược, là món ăn thực dưỡng tốt cho người bệnh bị nôn oẹ mang tính trào ngược ngoan cố và tiêu chảy giấc sáng

Những ai không được dùng nhân sâm?

Hiện nay, trên thị trường nhân sâm được bán rất nhiều, đủ mọi dạng như hồng sâm, bạch sâm, rượu sâm, trà sâm, các loại mỹ phẩm có sâm... Nhiều người cho rằng nhân sâm là loại thuốc bổ và mát, lại trị được bách bệnh. Đặc biệt trong những ngày hè nóng nực, nhiều phụ huynh đã mua nước sâm, trà sâm cho con uống để mong tiêu tan rôm sẩy, mụn nhọt hay bồi bổ để trẻ tăng cân.Thực ra nếu dùng không đúng, nhân sâm sẽ gây ngộ độc làm bệnh nặng thêm, thậm chí gây chết người.

Thành phần chủ yếu của nhân sâm gồm saponin triterpenoid tetracyclic, nhóm dammaran (gọi chung là ginsenosid), có tới gần 30 saponin khác nhau.

Những ai không được dùng nhân sâm? 1

Nhân sâm được coi là đầu vị của thuốc bổ khí, có công năng bổ khí huyết, định thần, ích trí.

Theo YHCT, nhân sâm được coi là đầu vị của thuốc bổ khí và đứng đầu trong 4 vị thuốc quý của Đông y: sâm, nhung, quế, phụ. Với công năng bổ khí, ích huyết, sinh tân, định thần, ích trí. Được dùng trị chứng chân khí suy kém, cơ thể thường xuyên có cảm giác mệt mỏi, đoản hơi, đoản khí, chân tay lạnh, mạch yếu, người gầy yếu, cơ thể mới ốm dậy, kém ăn, trí nhớ suy giảm, người ở trạng thái căng thẳng thần kinh, trong người nóng, háo khát, đái tháo, tim loạn nhịp, sinh dục kém, trẻ em quá gầy yếu, chậm lớn.

Có thể chỉ dùng 1 vị sâm: nhân sâm thái mỏng, hãm với nước sôi, nhiều lần, ngày có thể dùng 4-10g. Hoặc ngâm rượu: 50g nhân sâm thái mỏng ngâm rượu 3 lần. Lần 1 ngâm với 600ml rượu 35-40 độ, ngâm 1 tháng; lần 2 ngâm 500ml trong 3 tuần; lần 3 ngâm với 400ml rượu trong 2 tuần. Sau gộp dịch chiết 3 lần. Ngày uống 20-30ml.

Do có tác dụng bổ khí, nhân sâm còn được dùng trong nhiều bài cổ phương quý:

Bài Tứ quân tử thang: nhân sâm,bạch linh, bạch truật, mỗi vị 5g, cam thảo 3g. Ngày uống 1 thang dưới dạng sắc hoặc làm hoàn. Tác dụng bổ chân khí cho những người sức khỏe yếu hay mệt mỏi, kém ăn. Hoặc bài Bát trân thang: Kết hợp bài Tứ quân tử thang thêm các vị: xuyên khung, đương quy, bạch thược, thục địa, mỗi vị 5g. Ngày một thang dưới dạng sắc hay thuốc hoàn. Tác dụng: trị chứng cả khí và huyết đều suy, người mệt mỏi, chân tay vô lực, đoản hơi, thiếu máu, da xanh xao, gầy còm, kém ăn.

Những ai không nên dùng hoặc cần thận trọng khi dùng nhân sâm?

Nhân sâm tuy là loại thuốc bổ khí đầu vị, song không phải dùng cho mọi đối tượng được. Người bụng thường xuyên bị đầy trướng, căng tức, đau bụng, sôi bụng, phân nát, lỏng hoặc tiêu chảy không được dùng. Đặc biệt, nếu bị đau bụng, tiêu chảy, dùng nhân sâm có thể gây nguy hiểm đến tính mạng. Người bị nôn mửa, trào ngược, tăng huyết áp cũng không nên dùng. Vì sâm lúc đầu có tác dụng tăng huyết áp, sau lại hạ. Do vậy nếu ở trạng thái tăng huyết áp dễ dẫn đến tai biến mạch máu não. Phụ nữ trước ngày sinh cũng không nên dùng sâm.

Người hay mất ngủ nhưng sức khỏe yếu mà muốn dùng sâm nên dùng buổi sáng với liều lượng thấp, khoảng 2-3g/ngày. Cần lưu ý không dùng lô sâm (đầu núm rễ củ sâm), vì có tác dụng gây nôn. Không dùng kèm với vị lê lô và ngũ linh chi.

Trẻ em cơ thể yếu, kém ăn, chậm phát triển về thể lực và tinh thần có thể dùng nhân sâm, song không nên quá lạm dụng vì sẽ làm cho trẻ bị kích dục sớm.

GS.TS. Phạm Xuân Sinh